Archive | Cà phê chiều thứ bảy RSS feed for this section

Cà phê lan man ký

Không giống như rượu có thể uống với cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Cà phê thường uống chung với nỗi buồn

Cà phê thường được người ta ngồi nhâm nhi với sự trống trải, những ký ức, đôi khi là những kỷ niệm về một thời, một cuộc tình, hay cả một đời người. Có gã nhạc sĩ đã từng viết thế này:

Sáng nay cà phê một mình

Sài Gòn chợt mưa chợt mưa

Nhớ em bao nhiêu cho vừa

Em ơi, em ơi…

Một thời, những gã đàn ông như thế từng khiến tôi ngưỡng mộ. Bên ly cà phê nóng hổi, một gã đàn ông tư lự nhìn ra phố lặng lẽ ngắm dòng người qua lại. Thi thoảng gã lại nhấp từng ngụm cà phê nhỏ nhâm nhi vị đắng của nó rồi từ từ đặt ly cà phê xuống đôi mắt mơ màng nhìn xa xăm. Thời sinh viên, với tôi cà phê là như vậy. Nhưng cũng giống như những sinh viên khác, tiền chu cấp hàng tháng của bố mẹ chỉ đủ ăn. Bởi vậy, tôi cố gắng làm thêm nhiều việc với mục đích chính là kiếm tiền đi uống cà phê. Lúc ấy, suy nghĩ đơn giản lắm, đi uống chỉ để cho biết.

Ngày ấy, đi cùng tôi luôn là thằng bạn thân cùng lớp có chung sở thích “hưởng thụ”. Chỉ nguyên cảm giác oai oai khi cầm những đồng tiền kiếm được vào một quán cà phê mà những thằng sinh viên khác ít khi dám vào đã khiến hai thằng hứng thú vô cùng. Đấy là chưa kể đến việc ban ngày đi làm thêm vất vả mà buổi tối lại đi uống cà phê khiến hai thằng cảm tưởng như đang từ giai cấp bị trị lên giai cấp thống trị vì mỗi khi rút ví thanh toán đều rất tự tin.

Ngày ấy, chúng tôi thường mang chuyện đi uống cà phê đến lớp để bịp những thằng khác. Ví dụ như chuyện quán này có em phục vụ xinh xắn, trắng trẻo, quán kia cà phê nhạt nhẽo, phong cách phục vụ không chuyên nghiệp. Những thằng nghe chuyện thường nhìn chúng tôi với ánh mắt ngưỡng mộ, rồi lò dò hỏi tiền đâu mà chơi sang thế, lại còn tinh tế nữa, mặc dầu lúc ấy bọn tôi cũng chẳng phân biệt được cà phê nào ngon hay không, chỉ thấy đều đắng. Nhiều thằng hâm mộ quá cứ nằng nặc hỏi bí quyết kiếm tiền nhưng chúng tôi nhất định không nói. Đơn giản vì tiền kiếm được chủ yếu là nhờ việc đi học hộ, đôi khi là thi hộ cho mấy ông anh học tại chức khóa trên chứ cũng không có gì đáng được coi là “bí quyết kiếm tiền” cả.

Thú thực là lúc đầu chúng tôi cũng không dám bước chân vào mấy quán xịn mà chỉ nhìn bên ngoài đã thấy long lanh. Nhưng sau, do đã ngồi cà phê nhiều ở những quán bình dân nên quyết định liều mình bước vào những quán ấy. Tôi vẫn nhớ, hôm ấy sau khi đã cân nhắc kỹ về một quán thuộc hạng sang hai thằng quyết định gom tiền lại, mượn thêm tiền của mấy thằng bạn cùng phòng cho tự tin. Chưa hết, bọn tôi còn lục tung mấy phòng bên cạnh trong khu ký túc để kiếm ra hai đôi giày và hai bộ quần áo ngon lành nữa. “Đóng thùng” xong, mấy thằng bạn đi qua gặp đều hỏi: “Ê, trông ngon thế, đi tán gái đấy à?”. Hai thằng đều hớn hở: “Không, đang có tiền, đi giải trí ấy mà. Chứ tán gái thì cần gì phải diện thế này”.

Buổi tối hôm ấy đã khiến tôi nhận ra một điều đơn giản nhưng quan trọng rằng cà phê ở những quán ấy tuy đắt hơn nhưng không ngon hơn thường lệ, không hơn những quán bình dân mà tôi vẫn uống. Thời sinh viên trôi qua nhanh với vài mối tình. Có lần, tình yêu tan vỡ, ngồi cà phê rồi tự mình triết lý cà phê cũng giống như phụ nữ, nhiều khi hình thức chẳng quan trọng, quan trọng vẫn là cái chất của cà phê, cái sâu thăm thẳm của phụ nữ. Với riêng tôi, lần đầu bước vào một quán cà phê tử tế, cũng giống như hẹn hò một cô gái mà mình có cảm tình. Cả hai đều khiến tôi có chút hồi hộp, bối rối hơn thường lệ. Mỗi quán cà phê đều cho ta những cảm giác khác nhau. Không chỉ phụ thuộc vào chất cà phê, cách pha mà còn phụ thuộc vào cách phục vụ, không gian uống.

Mỗi gã đàn ông có sở thích cà phê khác nhau. Có thể thích nâu hay đen, có đá hoặc không, có người lại thích những loại cà phê mới, cách pha mới, những loại cà phê pha nhanh, uống nhanh. Riêng tôi thì thích nâu nóng, cũng giống như cách tôi thích những người phụ nữ truyền thống có hơi hướng hiện đại. Đậm đà mà vẫn ngọt ngào. Thưởng thức ít mà vẫn cảm thấy ngon.

Có lẽ phụ nữ và cà phê giống nhau ở điểm là đều có thể chinh phục được đàn ông. Với mỗi người đàn ông, phụ nữ cũng như cà phê mang lại những trải nghiệm khác nhau. Riêng tôi, thì cả hai đều khiến tôi mất ngủ nhiều lần.                                 

(Nguyễn Vương)

Câu chuyện cà phê

Ngớt mưa, âm vang các cơn sấm vọng về từ biển rơi rớt một đỗi nữa rồi mới bặt. Gió mang mùi cà phê thổi men nhiều ô cửa, như thể cả thế giới không ngủ, ngồi bên bàn với cốc cà phê cô độc. Cửa hàng đóng cửa gần 11 giờ khuya. Đó là lúc dễ chịu nhất trong ngày. Cô bạn Ninh cùng hội cùng thuyền ngáp to, nói rằng cô có thể ngả lưng và đánh giấc dài bất tận.

Thực tế cô là người duy nhất tôi biết sợ hãi giấc ngủ, e tiêu tốn thời gian. Nhà tôi không xa cửa hàng. Chiều, từ phòng thiết kế về, tôi ghé nhà một thoáng rồi đi bộ ra hiệu, không quên mang theo cái bình nhỏ đựng cà phê. Tôi cùng cô bạn thời đại học chung tiền mở cửa hàng bán những món đồ lưu niệm cho dân Tây du lịch.

Công việc làm thêm bình thản, không đòi hỏi gì khác ngoài những buổi tối ngồi yên giữa vài mét vuông đầy chật kệ hàng, vẽ, chờ vài người khách ghé vào và nhai mấy câu tiếng Anh thuộc lòng nói về vẻ đẹp gốm sứ hay sự độc đáo của các bức vẽ bằng tay… Cô bạn tôi đôi lúc giải khuây với việc đếm lại tiền, giấy chuyển khoản có nguồn gốc từ mọi ngóc ngách thế giới. Tôi uống cà phê. Cà phê không làm người ta thông minh nhưng nó đổ đầy cảm giác vừa lòng với chính mình. Thỉnh thoảng nhìn tôi một cách thờ ơ, Ninh nhắc: “Cậu uống nhiều vô cớ!” Các cô gái đọc sách hay đưa nhận xét bí hiểm. Tôi thích uống, vậy thôi.

Đoạn đường từ cửa hiệu về nhà phải lên đoạn dốc nhỏ. Tôi thở đầy phổi mùi thơm tươi mát của đêm, những cơn gió dính muối biển và bất chợt, tôi tới ngồi xệp trên cột điện gãy đỉnh dốc, nhìn về phía chung cư xa. Căn buồng T tầng 2 dễ nhận thấy, Một cánh cửa sổ luôn hé, con cá nylon treo dưới hàng hiên như vĩnh viễn bơi trong ánh đèn trắng. Ngày nào tôi cũng gặp cô. Công ty T làm việc và phòng thiết kế chỗ tôi chung toà cao ốc. Chúng tôi cùng đi thang máy, quen nhau lần mất điện bị giam trong cái thùng sắt tối tăm. T là một cô gái giản dị, mớ tóc thẳng, đôi mắt yên tĩnh và hơi thở nhẹ. Tôi chẳng biết nói gì cả nên hỏi cô có thích xem phim Hàn Quốc không. Cô nói mới đi làm chưa mua ti-vi. “Còn bóng rổ?” – Tôi hỏi tiếp, các nhân vật trên phim hay chơi môn này. T bật cười: “Tồi lắm!”. “Thế sách thì sao?” – Khi hỏi điều ấy, tôi nhớ Ninh, cô bạn đọc quá nhiều và sống hơi khác thường.

Cô gái xa lạ quay nhìn tôi: “Anh đang xem quyển gì?” Sự bối rối xâm chiếm vài giây trước khi tôi nhớ một tên sách Ninh để trên quầy hàng. Cô gái mỉm cười trong bóng mờ, nhắc tới Kenzaburo Oe, Phan Triều Hải, Kazan… những kẻ hoàn toàn xa cách với cuộc sống tôi. “Anh thích ai trong số họ không?” – Tiếng nói T dịu dàng, thân thiện. “Chẳng ai cả!” – Tôi đáp, với một chút tổn thương. “Cũng không đến nỗi nào…” T nói đơn giản. Bất giác cả hai cùng cười to, nhẹ nhõm. Khi ấy thì thang máy mở được cửa. Tia nhìn người bảo trì thang đặt lên chúng tôi ngờ vực tò mò. Tôi đọc và nhớ bảng tên cô gái. Bóng rổ, sách, cà phê, phim Hàn Quốc… những thứ tôi thích hay không thích. Thế nhưng chúng đâu quan trọng nữa khi một người đàn ông tìm thấy cô gái mà anh ta biết hình ảnh cô sẽ xâm chiếm anh, ngày mỗi ngày chất đầy lên, như những món đồ lạ lùng trong ngăn kéo…

Tôi ngồi trên trụ điện gãy thêm một chốc. Ô đen trắng tầng 2 bất động. Có lẽ T đang theo đuổi câu chuyện trên những trang sách. Một cái bóng lướt qua khung cửa. Rất nhanh. Tôi tự nhủ cô gái sắp ngủ rồi. Xách cái bình thủy trống rỗng, tôi nhổm dậy, rảo bước về nhà. Vài mẩu lá rơi xuống vỉa hè như những mảnh giấy cũ.

Ninh là cô gái bất thường – trên kia tôi hơi đả động điều này. Đang làm hoạ sĩ ở một xưởng phim, cô ta nghỉ ngang. Thời gian đó thi thoảng cô nhắn máy tôi ghé nhà, ngôi nhà lớn có vườn bao quanh mà thời sinh viên, tôi không thể hoặc không muốn bén mảng. Nhưng về sau chi tiết ấy chẳng còn ý nghĩa. Cô ta cần một ai để nói chuyện. Tôi là thằng bạn duy nhất cô chọn. Và tôi tới. Ninh đã ở lì trong cái chòi gỗ sau vườn hơn một tuần, như con gấu thờ ơ buồn bã.

Tôi leo lên căn phòng nhỏ bằng gỗ trước là nơi vẽ của Ninh. Mùi giấy báo, mùi sơn khô, mùi dầu hoả nồng nực xông thẳng ra như bầy ong vàng hung. Cô bạn tôi ngồi im trên cái bục mẫu, nhìn đám lá qua lỗ thủng trên trần. Mọi thứ hệt một cảnh phim khiến tôi chán ốm. Ninh lầu bầu cho biết cô ta không bao giờ tới xưởng phim nữa. Tôi chẳng hỏi lý do. Lý do của các cô gái độc lập thường chính xác nhưng khó hiểu. Dù không đau răng, Ninh dùng cháo, uống hàng bình nước trà, rồi lại nằm im suy nghĩ về đủ thứ vớ vẩn – tuổi trẻ, thời gian, tình yêu, và cả sự sinh nở. Tôi gợi chuyện chán rồi cũng lặng thinh theo.

Đến tối Ninh muốn tới quán gần trường đại học. Quán mở mấy bài cũ của Bee Gees. Tôi lầm bầm hát theo. Những ngày đó (một tuần? Có thể nhiều hơn) Ninh ở trong tầm nhìn và sự quan tâm của tôi. Vài tối muộn tôi ngủ lại xưởng vẽ gỗ cũ. Tôi nghe tiếng cô ta trở mình như con cá trong chậu nước. Nhưng tất cả chỉ dừng ở đấy.

Khi tôi đi làm thiết kế hơn một năm và Ninh ra khỏi trạng thái suy sụp, chúng tôi vét tiền mở cửa hàng gốm. Một cô gái trẻ, nói tiếng Anh và Đức lưu loát, am hiểu tranh sơn dầu và kỹ thuật men- những chi tiết này thu hút khách tới đông cửa hàng. Chúng tôi kiếm nhiều tiền. Thi thoảng tôi đoán Ninh sắp bỏ đi. Nhưng cô ta vui tươi. Khi tôi thổ lộ về cô gái tình cờ thang máy cao ốc, người cùng hội cùng thuyền phá lên cười, nhướn mày:
– Như thế có liên quan tới tình yêu không?
– Đi thang máy và mất ngủ ư? – Tôi lúng túng.

Ninh không trả lời, lật báo xem những món gốm cổ mới vớt lên từ đáy biển. Khuya, lúc tôi gần tới chỗ đứng trên dốc nhìn về chung cư có ô cửa nhà T trắng xanh, Ninh phóng sượt qua, phanh gấp, nhìn vào mắt tôi: “Cậu hãy lập tức nói với cô gái kia những gì cậu nghĩ, hoặc đừng dính líu vào vụ này nữa…” Tôi sợ gì chứ? Không biết! Chỉ rõ ràng tôi không can đảm như người chạy xe rất nhanh xuyên qua bóng tối. Ninh làm những điều mình nghĩ: Bỏ đi khỏi xưởng phim, nhúng tay vào mối vất vả chạy hàng, vẽ gốm, giao dịch… Tức là rời bỏ trạng thái yên ổn để đối diện sự huyên náo và nguy cơ thất bại rình rập. Nhưng cô ta đâu có chìm xuồng. Có lẽ tôi cũng nên làm điều gì, thay vì đứng yên và nhìn về ô cửa mỗi khuya.

Tòa chung cư nhìn gần lớn hơn tôi nghĩ. Những bức tường liên miên thấm ướt bắt đầu lên rêu ở mấy vết nứt, một con chó chạy rong ngửi những bông hoa dại đọng nước mưa. Tôi hỏi đường lên tầng 2. Người đàn bà giữ xe chung cư có đôi mắt kỳ dị khiến cảm giác nhẹ nhõm tươi tắn mà Ninh truyền cho tôi phai nhạt chút ít. Tôi nhìn lại bó cúc đất xanh lam ban nãy mua, hít một hơi dài. Dãy hành lang đọng nước. Tôi gõ nhẹ cánh cửa người ta chỉ dẫn, bỗng dưng muốn bỏ đi. Tuy nhiên cửa đã mở.

Gương mặt T đã ở đấy như hàng trăm, không, hàng ngàn lần tôi thấy trong tưởng tượng. Cô ngạc nhiên tột độ, rồi cười dịu dàng: “Vào đi!” Bên trong căn phòng nhỏ của T mọi thứ toát lên vẻ âm thầm hơi bất an của những món đồ không ở đúng vị trí của nó. Tôi liếc nhìn quyển sách trên bàn, đó là tựa sách mà tôi có nhắc tới lần đầu gặp T để khoả lấp sự bối rối. Cô gái mang ra cà phê trong cái tách nâu, bảo: “Buổi chiều uống cà phê thì ngày như dài hơn…” Tôi gật đầu: “ừ, nghĩa là mình cũng làm thêm được nhiều việc. Tối nào tôi cũng uống nó, nhưng chẳng ngon thế này”. Nụ cười toả trên mặt T như sóng thấm lên bờ cát. Tôi nhấp một ngụm đen sánh, tự hỏi vì sao quá lâu tôi trì hoãn tới tìm T. Bó cúc toả mùi hăng hắc nằm dưới gầm bàn.

Ngoài cửa sổ, chiều chất đầy mây sẫm. Những con bồ câu xám tro rời bầu trời xám tro trở về tổ trên sân thượng. Cô gái đối diện cũng vừa đi làm về, quầng mắt thoáng mỏi mệt như hai mặt hồ sâu thẳm… Một khung cảnh bình thản để người ta nói thật nhưng suy nghĩ của mình. Tôi nói nhanh: “T này, tối nay tôi không ra cửa hàng. Hình như tôi muốn được đưa T đi loanh quanh chơi”. Cô ngẩng lên, tia nhìn tối sẫm: “Anh nghĩ như vậy sẽ dễ chịu ư?”. Cảm giác choáng váng giống như thể trồng cây chuối quá lâu rồi biết mình không thể đứng lên được nữa. Tôi nghĩ cô từ chối, đơn giản là T không nghĩ tới tôi như tôi nghĩ tới cô, hoặc tệ hơn, tất cả những gì thuộc về tôi khiến cô xa lạ. Cô gái vào bếp mang ra vài quả trứng luộc.

Chúng tôi ăn trứng chấm muối, uống cà phê, kiềm chế tâm trạng của mình khỏi sự xao động thất vọng. Tôi chộp vài mẩu chuyện bay vụt qua đầu, nói huyên thuyên. T nghe nhưng nhìn đâu đâu, tháo giấy báo bọc bó hoa cúc, cảm ơn tôi đã nhắc cô bây giờ sang đông, cũng có nghĩa là cô ra trường đi làm gần 1 năm rồi… Những căn hộ chung quanh bắt đầu cuộc sống buổi tối. Trẻ con la hét. Tiếng bếp núc. Âm thanh của những tập phim Hàn Quốc. Chúng tôi đứng nán bên cửa sổ nhìn qua ti-vi màn hình lớn nhà bên cạnh. Phải chăng ti-vi đã dựng nên trong tôi ao ước vô hình về tình yêu, về cuộc sống tươi màu và hạnh phúc như thế… Nhưng sao khi tôi đem nó ra thử nghiệm, T đã thoái thác? Tôi chỉ cho T một nhân vật nữ làm việc cật lực, cáu bẳn, bảo giống Ninh, người cùng hội cùng thuyền của tôi nhiều năm qua.

Thình lình T ngoảnh sát mặt tôi, giọng như hơi thở nhẹ: “Cô Ninh ấy hay lắm. Còn tôi, chỉ là thứ xúc cảm thoáng qua thôi. Như một bộ phim, người ta có thể cười to hay khóc to vì nó, nhưng rồi phim hết người ta ra khỏi rạp và chẳng có gì quan trọng nữa…” Tôi lục điếu thuốc nhàu trong túi. Thế đấy, tôi đã nghĩ mình sẽ không đụng vào thuốc vì T làm văn phòng, cô không chịu nổi nó. Tuy nhiên mọi việc đã khác. Tôi nhìn điếu thuốc như quan sát một vật lạ, rồi thả nó rơi xuống sân cỏ.

Phải khá lâu sau buổi chiều kỳ quặc trên, tôi mới thu xếp ổn thoả với cảm giác trống rỗng và sự cô độc không rõ tên. Ninh là người bạn khôn ngoan. Cô ta không tò mò, không bày tỏ cảm thông vì ở một lẽ nào đấy, chúng tôi thân nhau tới mức không thể mở lời an ủi nhau được. Tôi thôi uống cà phê bởi chẳng cần nó, cũng đủ thấy một ngày dài. Ninh lấy cái bình thuỷ về nhà, đổ đầy cà phê nhưng pha thêm sữa và cả hai cùng uống khi tối muộn. Tôi ghét sữa. Cô ta ghét thứ nước đen kịt. Một sự trung hoà cũng được. Mưa nhiều, nhất là các buổi chiều.

Khách tới cửa hàng ít. Hai đứa chung tiền mua một cái ti-vi nhỏ và ngồi trong góc hiệu xem tất cả các game show, nghe các chương trình ca nhạc, cười vui vẻ. Phim Hàn Quốc cũng hấp dẫn. Ninh theo dõi chúng với vẻ ngờ vực. Tôi hơi xấu hổ nhớ lại đã có lúc hình dung tình yêu sẽ mọc lên trong cảnh lãng mạn như vậy. Tình yêu, suy cho cùng, cũng chỉ là một mẩu ghép nhỏ trong cuộc sống. Và người ta không thể rập vài khuôn mẫu, dù hoàn hảo và lãng mạn…

Mọi việc lại chảy đi với nhịp độ bình thường. Thỉnh thoảng tôi giáp mặt T trong toà cao ốc. Cô bước vào thang máy, bấm nút chờ, không nói gì. Người trông xe chung cư cái chiều hôm đó cho biết T là tình nhân ông chủ cô làm thư ký, cô sống trong căn hộ ông ta thuê gần một năm nay. Mách bảo ấy từng khiến tôi cay đắng biết bao. Tôi nghĩ giá mà cô chọn cách sống khác. Mối tình công sở giống như ngọn núi lửa tàn lụi và sự quyến rũ đi cùng nó cũng tắt theo, chỉ còn chút thông cảm dịu dàng như vệt tro nhẹ… Ninh tắt ti-vi, bắt đầu ôn ngoại ngữ. Cô ta lúc nào cũng bận rộn và tỏ ra bực bội khi tôi nhàn tản. Thêm một người khách Tây hỏi mua mấy cái cốc Phù Lãng. Tôi gói hàng, bấm thẻ tín dụng, nhẩm tính số tiền thu được trong ngày. Bỗng Ninh gấp sách, nói to: “Hôm nay kiếm được thế là đủ. Chúng ta đi đâu thôi. Không nên ở trong nhà quá nhiều, nhất là tối không mưa”. Tôi ngạc nhiên, hơi buồn cười.

Chúng tôi chạy chung cái xe cũ của Ninh. Mới hơn 9 giờ, đường phố không quá ồn ào. Tôi cho xe đi mãi, hít đầy phổi hơi muối bám trên những ngọn gió từ biển lùa về. Cảm giác ra khơi như một cánh buồm đột nhiên trỗi dậy, không lầm lẫn. Tôi nói: Ninh này, tụi mình cần làm cái gì tử tế, trước khi thời gian trẻ qua mất…” Cô ta không trả lời, chỉ đặt nhẹ đầu trên vai tôi. Một hơi ấm tưởng như bỏ quên. Một hương vị cà phê gần gũi. Luôn là vậy, hạnh phúc, cảm giác bắt đầu từ những thứ bình thường không ngờ.

(ST)

Kính cận và cà phê nóng

Nó có thói quen tản bộ vào sáng sớm, khi những chú chim đang hót ríu rít trên cành, bầu trời trong xanh với những cơn gió dịu nhẹ, đôi khi lành lạnh trước những cơn mưa đầu mùa. Nó thường dừng lại nghỉ chân ở một công viên trên chiếc ghế đá quen thuộc. Không hiểu sao nó thích ngồi đấy, suy nghĩ mông lung, vớ vẩn chuyện này nọ trong cuộc sống. Những lúc ấy, nó thấy lòng mình nhẹ nhõm hẳn.

Lúc nào cũng vậy, bên cạnh chiếc ghế đá nơi nó ngồi luôn xuất hiện anh chàng kính cận trên tay cầm tách cà phê nóng, gương mặt “lạnh như băng” cắm cúi vào quyển sách. Có lần, bị một em bé vô tình ném trái bóng vào đầu, thế mà “kính cận” vẫn ngồi im như không có chuyện gì xảy ra. Trông cứ như là “sát thủ máu lạnh”. Ngày qua ngày, dạo một vòng qua công viên, nó vẫn thấy “kính cận” ngồi đấy (chẳng hiểu từ lúc nào đã gán cái nickname ngồ ngộ cho người bạn khó hiểu kia ), vẫn chiếc ghế đá quen thuộc, vẫn một gương mặt “lạnh như băng”, vẫn tách cà phê nóng ấm. Mà nó thì không ưa gì cái thứ uống đắng nghét đó, chả ngon tẹo nào cả! Dù nó biết có lẽ trên thế giới này chỉ còn sót lại một đứa không thích uống cà phê như nó, nhưng nó vẫn tò mò muốn biết xem tách cà phê ấy có sức quyến rũ kỳ lạ thế nào. Rồi, nó cố tìm cách nói chuyện với “kính cận”.

Hôm ấy, nó ghé ngang hiệu sách mua một tờ báo, đem đến công viên để đọc. Gió miên man thổi qua các cành cây. Gió cuốn bay tờ báo nó đọc dở dang sang chiếc ghế đá bên cạnh – nơi “kính cận” ngồi.

– Cho mình xin lại tờ báo nhé! – Nó nói, giọng run run.

“Kính cận” vẫn ngồi im, chẳng buồn ngước mắt lên nhìn nó.

– Trời hôm nay gió gớm nhỉ?!
– Uhm…
– Cậu tên gì, cho tớ biết được không?
– …
– À, tớ xin lỗi! Hơi tùy tiện thì phải!

“Kính cận” uống vội tách cà phê, đôi mắt đăm chiêu nhìn vào quyển sách, im lặng…

– Xem ra cậu có vẻ thích uống cà phê nóng vào buổi sáng?
– Uhm… Sở thích của tớ.
– Ôi chao, tớ thì lại ghét cà phê nhất! Đắng kinh khủng í!
– Hì, tại cậu uống không quen thôi, chứ cậu mà uống quen rồi thì cũng bị “nghiện” như tớ!
– Úi giời, làm gì có chuyện đó được…

Cứ như thế, nó huyên thuyên đủ mọi thứ trên đời. Dù chỉ mới nói chuyện trong một buổi sáng nhưng nó cảm thấy khoảng cách giữa nó và “kính cận” không còn là khoảng cách giữa hai chiếc ghế đá nữa, cũng không phải là khoảng cách giữa một con người lạnh lùng, ít nói và một con người cởi mở, hay cười như nó. Ngày hôm sau, nó lại tiếp tục ra công viên, nở một nụ cười rạng rỡ cùng người bạn mới quen ấy.

– Này, tớ gọi cậu là “kính cận” được không?
– Uhm, cũng được…
– Nhà cậu ở đâu giữa cái thành phố rộng lớn này?
– Từ đây, cậu rẽ trái, rồi rẽ phải đến cái cây phượng già đằng kia, rồi cứ đi thẳng, đến nơi nào có cái giàn thiên lý trước cửa là nhà của tớ đấy. Mà thôi, tớ phải về rồi.
– Ơ, về sớm vậy! Thế sáng mai… cậu lại đến chứ?
– Uh, tớ sẽ đến…

Nó dậy rất sớm, chuẩn bị tươm tất từ việc chọn quần áo đến cả kẹp tóc. Nó chạy ra công viên, nhưng “kính cận” chưa đến. Nó sốt ruột ngồi chờ. Trời đã ngả nắng, cái nắng oi bức bao trùm cả một không gian tĩnh mịch. Trong công viên lúc bấy giờ chỉ còn một mình nó, gương mặt đỏ rực vì nắng. “Kính cận” đã không đến, nó hụt hẫng quay về. Nhớ lời chỉ dẫn của “kính cận”, nó đi đến ngôi nhà có giàn thiên lý, nhưng cửa đã đóng lại từ lúc nào…

Sáng hôm sau, trời mưa dai dẳng, nặng hạt. Nó vẫn cố khoác áo mưa đi bộ ra công viên để xem “kính cận” có đến không. Nhưng công viên không một bóng người và chiếc ghế đá cũ kỹ ướt nhem nước. Nó thất vọng chờ đến ngày hôm sau, rồi hôm sau, hôm sau nữa… Nó đang cố chờ điều gì? Chờ hình ảnh một “kính cận” với tách cà phê nóng và quyển sách trên tay ư? Chờ một lời hứa của người bạn mới quen trong ba ngày? Nó không biết lý do “kính cận” đột nhiên biến mất, chẳng một lời nhắn, điều duy nhất mang đến cho nó chút hi vọng mỏng manh về người bạn mới quen kia chỉ là câu trả lời ngượng nghịu “Uh, tớ sẽ đến”. Nó thèm được uống tách cà phê nóng mà “kính cận” vẫn hay nâng niu vào mỗi buổi sáng. Dù có đắng đến thế nào đi nữa, nó tự nhủ với lòng là nếu “kính cận” có mời, nó nhất định uống một hơi mà không kêu than…

Một tuần trôi qua, nó vẫn kiên trì đi tản bộ và không quên ghé ngang công viên để nhìn xem cái ghế đá ấy có ai ngồi không…

Nó vẫn hay mơ về một chàng hoàng tử, nó sẵn sàng làm một nàng lọ lem xấu xí để được sánh đôi cùng hoàng tử, để được một lần đặt chân vào chiếc hài lộng lẫy kia. Nhưng “kính cận” không phải là chàng hoàng tử bước ra từ câu chuyện cổ tích lãng mạn đó, cũng không phải là những điều nó từng ước ao, đơn giản chỉ vì “kính cận” là “kính cận”…

“Chợt khi em đi qua đời tôi cho nắng sáng xanh ngời
Chợt khi em đi qua đời tôi cho tôi biết  mong chờ…”

Ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm, gần đúng ba tháng lẻ một ngày kể từ lần đầu nó trò chuyện với “kính cận”. Nó vẫn nằm lỳ trong phòng và hứa với lòng sẽ không tản bộ nữa! Nhưng có một cái gì đó cứ thôi thúc khiến nó không làm chủ được trái tim mình. Đâu đây thoang thoảng mùi cà phê nóng quen thuộc…

Cuối cùng, nó quyết định ra công viên để chờ đợi một điều mà nó biết sẽ chẳng bao giờ đến. Nó đi, đi mãi… Bất giác nó cảm thấy con đường hôm nay sao mà xa thế, chân đã mỏi mà công viên ngập tràn kỷ niệm kia sao cứ trốn tránh nó. Nó quyết định đi nhanh hơn, những bước chân đưa nó đến một nơi đã từng rất quen thuộc trong quá khứ xa xăm thuở nào. Chiếc ghế đá không người ngồi đã lâu bụi bám đầy. Kể từ lúc “kính cận” ra đi, chẳng còn ai ngồi lên chiếc ghế đá ấy. Nó lại thất vọng quay về. Được một quãng, nó nghe văng vẳng tiếng gọi:

– Này… không thèm nhìn mặt tớ luôn à!

Nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu… nó cảm nhận rõ tiếng ríu rít của những chú chim non, âm thanh xào xạc của lá chen lẫn giọng nói quen thuộc đã từ lâu nó rất muốn nghe. Hình ảnh “kính cận” với gương mặt “lạnh như băng” ngày nào đang mỉm cười với nó. Bất giác, nó thấy mặn chát nơi miệng. Ngay lúc này đây, nó nhận ra rằng nó không còn ghét cà phê nữa, vì điều kỳ diệu đã đến với nó, như tiếp thêm đường vào cái vị đắng của tách cà phê kia… Nó cầu mong rằng nếu nó đang mơ thì thời gian ơi, hãy ngừng trôi để giấc mơ kia được tồn tại mãi mãi. Để nó biết được rằng trong giấc mơ tuyệt đẹp ấy, nó đã gặp lại “kính cận”, gặp lại tách cà phê nóng ấm của ngày đông… 

(Đặng Ngọc Tuyền)

Café cuối tuần

Thứ Bảy. Cà phê. Anh chở em qua Võ Thị Sáu, tự nhiên lại buột miệng bảo rằng sau này có con, anh sẽ mua cho nó thật nhiều gấu bông…? Thứ Bảy, đôi khi chen chân hụt hơi chỗ chợ đêm mịt mù người. Rảo chồn chân lại nhìn nhau cười ngất. Anh nắm tay em, thủ thỉ rằng sau này cưới nhau anh sẽ không bao giờ để em đi chợ một mình. Thứ Bảy, gặp hàng gỗ, anh lui cui coi giá để sau này cưới nhau mua. Thứ Bảy, để dành được chút thời gian anh lại chỉ cái bàn, bộ ghế, tấm rèm, bộ áo gối mùa thu đầy lá vàng thanh thanh “sau này cưới nhất định sẽ mua!”. Thứ Bảy. Đèo em qua khu chung cư mới toanh, anh thở sượt ra. “Không biết đến khi nào mới dành dụm nổi mua cho em căn nhà sáng sủa trên chỗ đó?” “Thôi mình về!”

Em không muốn thấy anh phải vật lộn với dự định “sau này cưới” mệt nhọc đến vậy!
Anh vẫn nắm tay em, lái xe bằng tay còn lại. Em không biết vì sao mình không nói được gì. Như một con hến bị người ta đụng đến là nó sẽ ngậm tịt vòm miệng rộng toác của mình lại. Như em. Như anh. Không biết “sau này cưới” là khi nào. Không phải anh không yêu em. Cũng không phải em không yêu anh. Chỉ vì không biết mình sẽ như thế nào, nếu “sau này cưới”…  Chỉ vì mình không thể liều lĩnh với tình yêu bao nhiêu năm như thế…. Chỉ vì những gì đó phía sau cuộc đời mà hai đứa chưa dám trao cho nhau.

Lại thứ Bảy. “Thôi không gặp nhau em hả? Anh bận.” Em không chắc. Nhưng có lẽ anh mệt nhọc rất nhiều khi gặp em, phải vất vả biết bao nhiêu với dự định “sau này cưới”. Em cũng thấy mình muốn vỡ bục ra. Thứ Bảy. “Không cần thiết phải gặp nhau nhiều như vậy nữa” Anh nhắn tin không bao giờ chấm câu. Nhưng em thấy lòng lặng mất một lúc dài. Ngoài đường người xuôi theo nhau. Thứ Bảy mọi ngày, mình cũng chối từ chính mình trong dòng người đông đặc mênh mông đó! Thứ Bảy. Lòng em không biết còn lại gì. Hôm qua mới gặp anh. Hai ngày nữa rồi cũng sẽ gặp anh. Nhưng thứ Bảy mọi lần em đều gặp anh. Nước mắt nhưng nhức trong khóe mi. Im lặng.

Đôi khi cuộc sống của mình trở thành hầm bà lằng không chịu được bởi những thứ rất tào lao. Nhưng đời có những tiểu tiết phụ trợ thừa thải và vô nghĩa nhưng nhất thiết phải có. Để thấy mình giống những người khác. Để thấy mình sống như người khác.

Anh hỏi em có cần kiểm tra thời gian biểu trong tuần của anh không? Em cười, đầu lưng lửng những nghi hoặc rất thật tình. Anh biết chứ, là đàn bà, tuồng như ai cũng phải nghi ngờ chút ít. Hình như có thế mới thành đàn bà. Em ngẫm nghĩ về tất cả những ngày chúng ta đã dành cho nhau. Tại sao nó không thể thành một ý nghĩa trọn vẹn nào đó, hay ít nhất cũng có thể là một kí ức rõ ràng? Những ngày tháng nhàn nhạt trôi qua, và không ngừng trôi qua nhau.

Em phát hiện ra chỗ làm thứ Bảy của anh có người con gái rất xinh. Cô ấy hay cười với anh. Nhưng hình như ý nghĩa nụ cười đó khác một chút tình đồng nghiệp. Em bám theo xin đi làm cùng. Anh vòng tay quanh eo em, “Anh không muốn em phải cực.” Nước mắt em rưng rưng, thương ý nghĩa lo lắng tận cùng của những điều anh đã vì em mà gánh vác.

Em tin anh. Nhưng em không tin được bất kì người con gái nào khác bên cạnh anh.

Hôm nay cũng thứ Bảy. Em ngập chìm trong những con số rỗng tuếch, như thời gian chẳng mấy khi rộng rãi mà lại làm con người ta thấy mênh mông. Đêm. Bóng người đổ chồng lên bóng anh trên bóng con đường em lặng lẽ đi ngược về phía bình yên.

Anh lúng túng phân trần rằng hôm qua anh phải đưa đồng nghiệp về nhà. Cô ấy không được khỏe. Em lắc đầu cười buồn. Anh hôn lên trán cảm ơn. Nụ hôn xa cách.

Nếu không làm điều gì có lỗi thì cần thiết phải biện bạch sao anh?

Nhà cô ấy cách căn hộ chung cư của chúng ta một con hẻm. Em tình cờ biết được một tối thứ Bảy thấy anh nắm tay tạm biệt cô ấy bên gốc điệp vùi mình ngủ muộn. Bàn tay cô ấy nằm trong tay anh rất lâu. Tay anh ân cần siết dần, như ai đó đang điềm nhiên nắm lấy trái tim em nắn bóp. Cô ấy nhích về phía anh rất gần, gần như gió và mặt biển. Hình như là một nụ hôn! Hình như là những cánh điệp khép đôi khẽ rùng mình. Em bước thầm về phía con đường tối. Ở đó, chỉ có gió…  Không anh!

Em nhìn anh rất lâu qua khe gỗ ngăn những ô máy cách biệt trong công ty. Mắt anh trũng sâu, hoang hoái buồn. Đôi đồng tử đẫm tối. Anh nép mình rất sâu vào công việc. Không nhất thiết phải gặp mặt, nhưng dường như anh đang cố gắng lẩn trốn em một cách vô vọng. Trưa. Anh ngả ra sau lưng ghế ngủ vụng. Đôi kính trế nải chệch trên sống mũi. Em dỡ xuống, lặng lẽ đối diện anh trong giấc ngủ. Ở đó anh thuộc về em, hay về người con gái ấy?

Thứ Bảy. Mắt em cay xè, nghĩ rằng anh cũng như người khác. Cuộc sống, đôi khi nhân tiện phải tranh thủ, tranh thủ sống, tranh thủ yêu, tranh thủ nhau…  Không thể khác được. Thứ Bảy. Đôi khi người ta chỉ vì quá giang khi cùng đường, ăn chung bữa tối muộn màng. Nhưng người ta có cả một ngày thứ Bảy để thay thế mình vào một chỗ khuyết không tên.

Thứ Bảy…

Em nép mình vào đêm, nhìn nụ hôn của anh chuyên chở nỗi đau của mình vào bóng tối. Đôi mắt người con gái quét qua khắp căn phòng như một chùm sao chổi bay vụt qua khoảng đêm, nhấn chìm mọi vật trong màn tối đen đặc. Em lao vào vết trượt của thời gian. Vấp váp. Thấy mình rơi thõm vào khoảng không gian êm ái hun hút mùi sương khuya. Se sắt. Tê tái rùng mình. Lạnh ở trong tim….

Em thức dậy trên giường nhà anh. Trán âm ẩm đau. Trong hương sớm, nắng thơm mùi con gái. Đêm qua, cô ấy bỏ quên trên mắc áo nhà anh chiếc áo khoác còn sặc mùi mồ hôi trộn trong mùi nước hoa thoang thoảng. Có phải đêm đã qua. Và ngày cũng đã tàn?

Anh ngủ gục trên mép giường. Mái tóc mất nếp khum khum chảy theo vầng trán hằn vết lo toan. Khi anh ngủ, em có thể đối diện với anh về mọi nghĩa. Đối diện với tình yêu của anh. Đối diện với thực tại của anh. Đối diện với khuôn mặt bao nhiêu lần em ôm trong tay mình. Em hôn phớt lên những vết yêu thương đã mặn mùi xa cách. Em bước qua chiếc áo con gái màu hồng phớt treo hững hờ trên mắc áo ngoài cửa vào. Chỗ đó anh để dành em treo mũ áo. Chiếc áo khoác in hình những bông hoa màu trắng treo chồng lên, như có ai đó đè lên ngực em, lèn chặt trái tim em xuống. Nghẹn tắc…. như em đã từng cảm thấy sau những nụ hôn.

Em đã bước qua mình. Bước qua anh.

Anh bổ nhào lên công ty tìm em. Tìm thấy rồi anh lại không biết tìm em để làm gì. Nhìn nhau rất lâu, chờ em quay đi anh mới vội vàng ôm chầm lấy em xin lỗi. Tim em run rẩy khóc. Nhưng tâm thức của em lại tỉnh, gỡ bàn tay anh ra, như gỡ những mối dây buộc mình vào thời gian.

-    Cảm ơn anh đã chăm sóc em.

Anh bần thần mụ mị. Khi em đi rồi không biết anh đã tựa vào đâu?

Anh tìm em rất nhiều lần. Nhưng tất cả mọi địa chỉ trên mạng đều ẩn danh. Em không còn ngồi máy trước mặt anh nữa. Em cũng không còn về căn hộ một nửa đã đứng tên hai đứa mình. Em chỉ có thể đối diện với anh trong giấc ngủ. Anh của những nỗi đau đã mất mát sau một lần lầm lỡ không thuộc về em.

“Mình chấm dứt mọi thứ, nghen anh!”

Em không có cả thời gian để thu dọn những kỉ vật và những vị trí em từng ở đó. Mỗi nơi có một chút là em. Trong căn bếp sắp ấm tiếng gia đình. Trong góc ban công cành quỳnh đã la đà nồng nàn mỗi tối. Trong máy tính của anh. Trong tủ áo đã lẫn chiếc này chiếc khác. Trong mỗi bóng đường, có một chút dấu chân em để lại những khi bên anh. Trong bản kế hoạch miệng dài lằng nhằng anh đã hoạch định không biết bao nhiêu lần rằng “sau này mình cưới”. Trong những cái “sau này” tê buốt tim em, âm ỉ dai dẳng như những thanh củi gộc bén lửa thành than. Như những điều còn nằm trong tiềm thức, hàng sáng thức dậy vẫn cứ nghĩ mình còn một cái đám cưới đang chờ trước mặt để mà sống. Như những buổi chiều loanh quanh góc chợ, mỉm cười một mình với ý nghĩ rằng mai này mình sẽ có một ngôi nhà nho nhỏ để vun vén lo toan. Là những khi em thảng thốt nhận ra đó không còn là mình nữa, không còn là em trong khúc xạ của tình yêu. Trong những ngày mình hạnh phúc. Trong em. Trong anh…. Lả tả vỡ rơi từng chút một.

Em dọn dẹp lòng mình, vội vàng như một kẻ phá sản gấp gáp bán nhà chạy trốn. Những buổi chiều dửng dưng em thèm nghe một câu ai đó líu lo, “Cà phê em nghe!”, thèm thấy mình bận bịu với những chiếc áo màu, thèm được líu ríu sau xe, thèm khung cảnh lặng yên chỉ có lòng mình trải đều trên khung nhạc, thèm được như bao nhiêu đôi tình nhân thứ Bảy dập dìu. Con người ta đi đến tận cùng rồi cũng phải quay về với những thói quen, những mong ước bình dị và tầm thường – như những người khác. Em vấp váp những kỉ niệm, những buổi hoàng hôn. Vấp váp vào anh. Vấp váp vào lỗi lầm. Và những vướng víu không tha thứ cho nhau.

Thứ Bảy. Dắt xe ra phố. Hoảng hốt nhận ra cái bóng của mình sau lưng nhàn nhạt lung lay. Cuộc sống có quá nhiều thứ làm người ta phải sa ngã, nhiều thứ làm người ta đau. Nhưng không có nỗi buồn nào bằng những ô cửa nhà về đêm đèn không sáng. Như ta vất mình cho hạnh phúc, nhưng cuối cùng lại đánh mất con tim.

Đôi khi em vào quán một mình, gọi cà phê, pha chế những nỗi buồn vào giọt đắng. Cố gắng để quên mình đã từng là một ai đó, đã từng yêu thương, khổ đau như thế nào đó. Khi người ta mệt mỏi, họ tự trăn trối mình bằng những dự định còn dở dang. Em nhận làm thêm vào chiều thứ Bảy, chạy trốn viễn cảnh chờ đợi những nỗi nhớ dội lên khi đèn bắt đầu phủ vàng xuống phố. Cứ mải miết tìm đường giữa những biển người đông nghẹt, riết cũng quên mình đi để trốn cái gì, tìm cái gì. Chỉ biết là cần phải đi, bắt buộc phải thoát ra, phải rẽ cho mình một con đường. Để quên đi một điều gì đó. Để là một cái gì đó trong veo….

Thứ Bảy. Em uống cà phê một mình. Rót từng giọt đen vào tim. Để thấy lòng mình đầy lên. Để lơ đãng nhìn mình sau khung kính chiếu hậu. Sau em là anh. Sau anh là nỗi đau. Sau nỗi đau là những vấp váp vội vàng. Sau những vội vàng ngày thứ Bảy….

Sau ngày thứ Bảy, vẫn tròn đầy những điều chưa kịp trao nhau….

(Bảo Chi)

Chiều cà phê quán nhỏ

Chưa phải giờ tan tầm. Hay là rồi nhỉ? Hà Nội bây giờ ở ngõ ngách nào hình như cũng thế. Bụi và ồn. Những con đường mới mở ào ào xe. Còn phố cũ… như thế này.

- Liệu bây giờ ở Hà Nội mình có thể kiếm được một chỗ nào yên yên hơn không?
– Khó chị ạ. Chị chưa quen lại với Hà Nội phải không? Muốn ở một nơi có vườn trong phố phải ra khỏi Hà Nội vài mươi cây số. Nhưng người ta không tới đó để uống cà phê và… ngồi như thế này.

Như thế nào? Người đàn bà kín đáo rướn vai kéo lại dây áo trong, bần thần. Mới đêm trước trên con đường Bắc Ninh – Hà Nội, nửa khuya anh nhà báo vừa nhấn ga vừa chỉ dãy phố gần cầu Long Biên: “Đấy! Chốn chơi đêm của người Hà Nội đấy. Phóng sự vân vân về tệ nạn xã hội thấm gì. Còn dọc đường lên Hòa Lạc…”. Gió hắt tiếng và cả cát, vô vàn cát vào mặt người đàn bà. Ừ, mới chỉ một đêm, một buổi sáng và một buổi trưa trưa. Gió nóng và nắng ẩm.

Những ý nghĩ đứt đoạn. Người đàn bà ngả người vào lưng ghế. Khung nhựa. Không được êm lắm. Nhưng mà quả thích hợp với mùa hè. Nơi này. Nóng và ẩm. Phố trước mặt xe rầm rầm. Mặt người ào qua, lúc rõ lúc không. Tại sao về đây rồi mà có lúc mình có thể cảm thấy xa lạ chốn này nhỉ?

Chẳng lẽ chỉ vì cảm giác dấp dính da thịt, vì nóng, vì ẩm, ngay cả vì bụi? Chẳng phải mình đã sinh ra, lớn lên và đã từng có bao nhiêu là yêu thương nơi này ư, những mùa, những chiều, phải, chiều nơi này, sao mà… Thời gian xa, ừ, xa nhưng đâu phải là vĩnh viễn rời bỏ được. Lẽ nào đời sống mình đã thuộc hẳn về nơi chốn đó…

– Thế chị đã đọc thư em chưa?
– Thư? À! Gửi vào địa chỉ nhà mình ở bên kia thì mình đành đọc muộn rồi.
– Không! Yahoo chứ. Chị cho em địa chỉ Yahoo cơ mà. Thư đã đi.
– Thật sao? Tại sao trong hộp thư mình không có nhỉ?
– Có phải thế này không? – Người đàn ông nhìn vào mắt người đàn bà, đọc chậm – a còng… chấm… đê… ê.

– Thôi chết rồi. Vậy là mình đã đọc địa chỉ thiếu mất rồi. Phải thế này…

Vậy là thư đã tới một địa chỉ khác thật rồi. Và cái chính là một người xa lạ, không biết giới tính, tuổi tác, không rõ mặt mũi, tính nết, cái người vô danh tính ấy sẽ đọc nó. Người đàn ông thoáng bối rối. Người đàn bà cũng bối rối.

Từ một tuổi nào đó người đàn bà đã nhận ra rằng một sự cố như thế này có thể làm thay đổi hoàn toàn một quan hệ và điều ấy rất nhiều khi thật đáng tiếc. Có gì trong bức thư ấy nhỉ mà cậu ta hỏi mình đọc chưa lần này là lần thứ hai. Từ bao giờ mình thôi không còn nhận được thư của một người con trai sau một lần gặp gỡ? Không nhớ nữa. Cậu ta…

Một nét cười lướt qua mắt người đàn bà. Người đàn ông ngồi cùng với chị ta đây đâu còn là một chàng trai trẻ. Mái tóc. Hàm râu. Chơm chớm bạc cả rồi. Cặp kính gọng đen mắt nhỏ đủ thanh nhã cũng đủ hầm hố, từ đó rọi ra những tia nhìn dò hỏi, khoan xoáy, độ lượng. Nói chung đầy vẻ từng trải. Và hấp dẫn. Người đàn bà gắng xóa thật nhanh ý nghĩ này, quay lại băn khoăn cũ.

Tại sao anh bạn thân mến này lại gọi mình là chị xưng em một cách giản dị và chân thành thế nhỉ. Nói chung ở tuổi này người ta dễ dừng ở một cách xưng hô trung tính hơn. Chị – tôi. Anh – tôi. Đấy là những mẫu đứng đắn. Còn những người thích sưu tầm lại tuổi trẻ thì dĩ nhiên là khác. Anh em em anh, dĩ nhiên. Bản thân người đàn bà nhớ cũng chưa từng xưng chị với người đàn ông. Mặc dù biết mình nhiều hơn vài tuổi. Bốn? Hay ba?

– Nơi chị sống thế nào nhỉ? Nói chung em không hình dung nổi.

Người đàn bà thôi kiếm tìm gì ở ngoài đường, quay lại, nhìn vào mắt người đàn ông. Không, không phải là một câu đưa đẩy. Có một mối quan tâm thật trong đó. Vẫn có một người đàn ông xa lạ muốn biết về mình ư?

– Hình như… ngôi nhà này mình từng đến. Dĩ nhiên ngày xưa chưa có quán cà phê này. Phải… đúng rồi… Nếu đập bỏ những cái chỗ cơi nới và dỡ cái mái che này đi. Ngày xưa ngôi nhà này và nói chung phố này đẹp lắm, đúng không? Mùa thu, hương hoa sữa thoảng từ Nguyễn Du về. Hàng cây, vỉa hè, biệt thự.

Ngôi nhà này cũng vậy. Sân sau rộng. Phía trước là hàng rào sắt, chính cái chỗ mình đang ngồi đây này. Nếu mình không nhầm thì chủ nhà là Việt kiều. Chắc là Việt kiều yêu nước rồi. Ông ấy là bác sĩ nổi tiếng lắm. Bà ấy với mấy chị em gái hay con gái cũng chả biết thường nhận đặt bánh gatô…

Ô! Cái thời xa lắc. Cái thời thiếu đói toàn phần. Người đàn bà, lúc đó còn là một cô gái nhỏ, đã từng đứng nơi này, nâng niu cái bánh gatô đặt vào làn, ngồi ghé lên xe đạp cho cậu bạn (sau này là người yêu, nhưng không bao giờ là chồng) đèo về, những sinh nhật bạn bè. Chiếc bánh tròn, màu bơ, màu kem, dịu dàng, thơm phức, tươi ngon. Như là hiện thân của một đời sống khác hoàn toàn, xa lạ hoàn toàn với thành phố này, ngày đó.

Ngày đó, người ta cũng có bán bánh gatô. Bodega. Bốn mùa. Và góc phố Thợ Nhuộm Quán Sứ. Những cái bánh gatô xanh xanh đỏ đỏ trang trí bằng những bông hoa làm từ thứ kem thứ bơ quá đát chảy ra, biến dạng dưới sức nóng trong cái tủ kính con con đặt lề đường, hàng bằng lăng còi cọc trổ hoa tím ngắt ngơ bên bờ tường Hỏa Lò mà bốn góc nhìn lên bao giờ cũng thấy một gương mặt và một mũi súng… không hiểu tại sao lại hằn sâu như thế trong ký ức.

– Em không biết. Em hay ngồi đây bây giờ là vì cơ quan em ở ngay góc phố kia kìa. Và chỗ này, ở cái thành phố ồn ào này thì không quá ồn ào. Còn bánh gatô… Có thể thời bọn em lớn lên bà chủ nhà đã không còn làm nữa. Mà nói chung em không biết. Đấy là việc của bọn con gái. Xin lỗi, của các cô gái.

Người đàn bà cười theo người đàn ông:

– Đấy, ngày ấy ngôi nhà này thế đấy. Và phố này thì không phải là không quá ồn ào mà là yên tĩnh. Rất yên tĩnh. Những khoảng nắng. Lá. Gió. Bóng râm. Ve nữa. Mình rất thích phong thái ông bà chủ nhà này. Không biết họ có còn không? Người đàn bà ngần ngại nhìn anh chàng trẻ tuổi khật khừ đi đi lại lại giữa những dãy bàn, tự hỏi đấy có phải là người phục vụ kiêm người nhà và chợt buồn vì một cái gì không biết nhưng rõ rệt lắm phân giữa những lớp người đã sống ở thành phố này.

– Ve… Ồ, về mình cứ gắng lọc trong những thanh âm này tiếng ve… Nơi mình ở bên đấy cũng yên tĩnh như Hà Nội mình ngày trước. Và nắng gió… nhiều khi chả khác gì một sớm một chiều mùa xuân mùa thu quê hương mình. Nhưng đó không phải là Hà Nội. Không phải là Hà Nội.

Người đàn ông nhìn người đàn bà đang như nói với chính bản thân mình, đưa tay vuốt nhẹ bàn tay người đàn bà, nửa ân cần, nửa lơ đãng. Người đàn bà cười, hơi gượng.

– Thật đấy. Giống, nhưng không phải là nơi này. Thử hình dung xem nhé… Buổi sáng, mình ngồi với tách cà phê nhìn ra vườn. Có con sóc dừng bước chạy trên hàng rào ngó mình. Yên tĩnh đến tưởng chừng không thật. Mình có cảm giác đời sống của mình cũng không thật. Còn ở đây, ngày đầu trở về mình ngỡ bị đẩy bật ra khỏi dòng đời này. Chí ít thì mình cũng đã lo thắt cả bụng cho hai cái đầu gối lúc ông xe ôm lạng lách. Có ông còn hỏi chị có muốn đi xe một bánh không tôi chiều.
– Còn giờ thì chị nghiện xe ôm rồi chứ? – Người đàn ông bật cười – Chị có từ đó khái quát lên được cái gì không?
– Chưa. Chỉ thấy buồn và buồn cười. Chẳng biết có phải người đi xa lâu năm nào về cũng thấy toàn cảnh kiểu Sông Lấp (tên bài thơ của Tú Xương) thế này không? Chẳng biết có được phép buồn không? Vì một người Hà Nội như mình giờ muốn tới ngõ ngách nào cũng phải hỏi đường. Mà hỏi ai chứ? Toàn hỏi người Nam Định. Ừ, đi xe ôm tỉ tê với ông lái nào cũng là một ông Nam Định cả.
– Họ chưa phải là người khổ nhất – Người đàn ông nói, gần như thì thầm nhưng rõ ràng.
– Vậy ai là người khổ nhất? – Với chai nước khoáng không ga đặt ở mép bàn, người đàn bà dốc vào cốc cà phê đá đã loãng tuệch – Mình trở về, đi đó đi đây, gặp gỡ. Cái giới của bọn mình chắc phải là giới thạo tin và nắm bắt tâm thế xã hội nhanh nhất chứ nhỉ? Nhưng mình chưa hiểu gì cả. Có hôm ngồi trong nhà hàng máy lạnh, thấy bạn mình rút tiền trả, nói thật là giật mình.

Ngoài kia, dưới nắng, anh hàng rong đang nâng niu sắp xếp mấy nải chuối trên tấm nilông. Y như ngày xưa. Một món hàng cồng kềnh, khó bảo quản và giá rẻ. Không biết một ngày đường xa nắng bụi anh ấy có kiếm được bằng tiền một tách cà phê cậu bạn vừa mời mình không? Mình tự hỏi hai người đàn ông, bạn mình, thành đạt, giàu, và anh chàng kia, cam chịu, nhẫn nại trong cái nghèo, ai sướng? Đúng hơn là có người nào thật hạnh phúc?

Người đàn ông đột ngột ngả mình. Lưng ghế nhựa oằn xuống dưới sức nặng của bờ vai vạm vỡ. Người đàn bà gắng rời mắt khỏi người đối diện, gắng gạt đi một tưởng tượng. Một chiếc xe gầm lên, vọt từ vỉa hè số nhà bên xuống lòng đường, át đi những âm thanh khác.

-… vô cùng. Cái nước mình nó thế. Ông… cái câu đến là hay. Giản dị mà bao quát tất cả, lý giải được tất cả. …hăm hở, háo hức sống. Có phần nông nổi nữa. Cứ như thể chưa từng có một quá khứ thực ra rất gần, như thể không cần phải có quá khứ. Em tự hỏi… liệu cái đỉnh mình đang hì hục trèo lên có phải người ta đã chễm chệ mãi rồi không? Là em nói chuyện chữ nghĩa.

Chữ nghĩa, đấy hình như là lý do đầu tiên để họ ngồi với nhau nơi này. Người đàn bà nhìn ra đường. Hàng cây thâm nghiêm ngày nào giờ tủn hoẳn bên những ngôi nhà tầng cao mặt tiền hẹp. Hoa phượng ơ thờ rụng. Trong vòm phượng tội nghiệp kia liệu còn có chú ve nào? Hàng rào sắt này có phải vẫn là hàng rào xưa của đúng ngôi nhà xưa? Tại sao mình ngồi đây và tại sao mình còn muốn ngồi đây như thế này mãi? Vệt nắng góc phố đằng kia thu hẹp rất nhanh. Sắp tối rồi. Đêm xuống thì sao nhỉ?

– Người Hà Nội… Bụi quá thể là bụi. Người ta bịt kín mít thế kia là phải. Nếu mình về lâu lâu chắc mình cũng phải thế thôi. Nhưng mà tiếc. Đàn bà con gái trông ai cũng như là cô gái mở đường. Nhan sắc Hà Nội bây giờ là thế ư?
– Vâng. Nhưng mà chị sẽ nhận ra thôi. Người đất này vẫn thế. Vẫn tự kiêu. Giản dị là một hình thức để bày tỏ…

Người đàn bà thoáng giật mình. Mình có tự kiêu không nhỉ? Đúng hơn là mình có tự tin quá không nhỉ? Và cả anh bạn thân mến này nữa? Với cái cách ăn mặc có phần xông xênh này? Bất giác mỉm cười và nụ cười còn lại mãi khi hai bàn tay nắm lấy nhau phút từ biệt. Như thể sự thân thiết tin cậy này đã từ lâu lắm và như thể chỉ ngày mai họ lại có thể gặp nhau bên một tách cà phê.

***

Hai hôm sau người đàn bà lên đường. Đêm, phút trước khi ra sân bay, người đàn bà mở máy tính, vào mạng. Trong hộp thư có duy nhất một mail. Đấy là bức thư lẽ ra phải được đọc từ hai tuần trước, gửi ngay sau buổi chiều cà phê quán nhỏ.

…………………….
……………………………
…………………………………….

Em thích chị!

Người đàn bà nhẩm lại, dừng ở dấu chấm than, cảm giác như bị say nắng.

Cà phê và nỗi nhớ.

Nhiều người nước ngoài nghiền cà phê sau khi đến Việt Nam đều nhận xét: Cà phê Việt Nam rất ngon và cũng rất… nặng. Lúc đầu, tôi không để ý đến lời nhận xét này bởi tôi không phải là dân nghiền cà phê.

Đúng hơn là số tiền bố mẹ gửi hàng tháng trước đây cho tôi ăn học không thể đủ để tôi có cơ hội thưởng thức cái hương vị rất quyến rũ của thứ chất đen xì, đặc sánh khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Sau này, khi đã tự mình kiếm được tiền để trang trải cho các khoản sinh hoạt hàng ngày bao gồm cả “tình phí” thì cà phê lại trở thành một thứ đồ uống không thể thiếu được. Nhất là trong lúc này, khi chính mình đang dùng cà phê để tăng thêm cảm hứng viết về nó, với rất nhiều nỗi nhớ quê hương đan xen nhau của các buổi chiều hè ngồi cạnh người yêu bên hồ, hay những đêm đông trong một góc nhỏ của quán nước ven đường.

Cái ngày đầu tiên ấy, cái ngày đầu tiên đưa bạn gái vào quán cà phê, tôi đã dõng dạc gọi “một ly cà phê tan” và tự thưởng cho mình cái cảm giác sành điệu của kẻ từng trải. Ngay sau khi chọn xong đồ uống, tôi ngỡ ngàng nhìn xung quanh và phát hiện ra mình đang rất lạc lõng giữa những con mắt vừa quen vừa lạ của khách hàng xung quanh. Anh phục vụ, như để chữa ngượng cho tôi, đã nói: “Có phải anh muốn uống một ly nâu không?”. Chợt hiểu ra, tôi chộp lấy cơ hội và gật đầu ngay không quên kèm theo một lời cảm ơn và một cái nháy mắt.

Sau sự cố nho nhỏ ngày đó, tôi bắt đầu để ý nhiều hơn đến các loại cà phê, các cách thức uống và thời điểm người ta hay uống nhất. Dường như chẳng có một quy luật chung nào cả. Tôi cứ nghĩ, những người nghiền cà phê hình như uống bất kể lúc nào, bất kể ở đâu và bất kể loại nào. Đưa thắc mắc này ra với bạn gái (mà bây giờ đang là mẹ của con trai tôi) thì lại bị hớ thêm một lần nữa. Theo cô ấy, với những người sành cà phê thì họ chỉ thích uống ở một vài địa điểm quen thuộc, với chủng loại cà phê mà họ thực sự yêu thích, sau hàng năm trời sàng lọc qua hàng trăm loại cà phê đã có trên thị trường. Hơn thế nữa, họ chỉ uống vào những giờ nhất định chứ không uống vô tội vạ như chính tôi bây giờ. Họ uống cà phê mà như không uống. Họ uống mà không hề để ý đến việc mình đang uống gì. Ấy thế mà nếu một ngày nào đó, chủ quán quá tay thêm vào một chút nước, ngay lập tức họ sẽ nhận ra một điều khác lạ đang diễn ra. Nó như báo hiệu một ngày mới tốt lành đang đến, hoặc cũng là một đêm trằn trọc vì một bóng hồng bỗng thoáng qua và sẽ không bao giờ gặp lại.

Giờ đây, ngồi trong một góc nhỏ của căn phòng, nhấm nháp ly cà phê – mà đúng hơn là uống cốc cà phê được pha một cách rất công nghiệp ở một đất nước vừa ăn, vừa uống, vừa lái xe… để chạy theo thời gian, tôi mới hiểu được cái giá trị của những buổi sáng sớm tinh mơ ngồi ngắm đường phố, ngắm mọi người và ngắm những giọt cà phê đang nối đuôi nhau nhỏ xuống tưởng như không bao giờ dứt. Cứ mỗi lần có người ở Việt Nam sang thì điều đầu tiên tôi nhắn gửi là mang theo một vài gói cà phê làm quà, và cho dù rất muốn giữ lại cho riêng mình, thì cuối cùng những gói cà phê ấy lại nghiễm nhiên nằm trong tủ bếp của một gia đình bạn bè nào đấy. Cũng tiếc đấy, cũng buồn đấy nhưng cứ nghĩ đến cảnh người bạn cầm ly cà phê của Việt Nam thì lại thấy mình muốn tặng cho họ nhiều hơn. Tặng quà bằng cà phê không chỉ để bày tỏ tấm lòng của người Việt, mà đồng thời qua đó cũng muốn giới thiệu một chút gì đó về những sản phẩm của quê nhà và những khía cạnh văn hoá của Việt Nam.

Tiếp xúc với rất nhiều người nước ngoài đã đến Việt Nam, tôi được biết ngoài phở, bún chả, nem rán… thì cà phê Việt Nam cũng là một trong những thứ không thể nào quên sau khi họ trở về. Uống cà phê ở Việt Nam không giống như ở nước ngoài, nơi mà cà phê được cho vào những chiếc cốc bằng giấy ép, vào cốc thuỷ tinh to như chiếc cốc thường được dùng để uống bia hơi ở Việt Nam. Họ vừa đi vừa uống, vừa nói chuyện. Họ uống mọi chỗ, mọi nơi và mọi lúc. Họ cũng có rất nhiều loại cà phê khác nhau và hương vị cũng rất thơm. Nếu ai muốn thử hương vị của nó thì có thể đến các khách sạn nhiều sao ở Việt Nam, chắc chắn sẽ được thưởng thức những ly cà phê pha theo kiểu công nghiệp như thế.

Nói đến chuyện uống cà phê, tôi lại liên tưởng đến những buổi tiếp khách quốc tế ở Việt Nam mà tôi đã từng tham dự. Quả đúng là người Việt rất hiếu khách và cách chiêu đãi cũng rất độc đáo với các món ăn dân tộc rất đa dạng. Tuy nhiên, nếu mâm cao, cỗ đầy mà chỉ là vì xã giao thì thiết nghĩ cùng nhau nhâm nhi một ly cà phê và bàn bạc về những vấn đề cần quan tâm, cùng tìm ra những điểm chung của nhau cho những giải pháp sắp tới, cũng không phải là không có giá trị. Người nước ngoài đến Việt Nam không nhất thiết phải đến các nhà hàng sang trọng với những món ăn với giá tiền mà một người nông dân ở Việt Nam có thể ăn một tháng cũng không hết. Điều quan trọng là tấm lòng và chỉ có tấm lòng thực sự mới để lại những kỷ niệm sâu sắc trong lòng bạn bè quốc tế mà thôi.

Còn với những người con xa xứ, mỗi lần uống cà phê Việt Nam pha theo đúng cách, không ai không có cảm giác lâng lâng của một cơn say cà phê do quá chén, hay cái cảm giác minh mẫn và ngây dại của anh chàng đang yêu. Với những ai đã từng xa xứ và đang được hưởng những giọt cà phê trên quê hương Việt Nam, hãy trân trọng những giây phút đó bởi mỗi giây phút của cuộc đời chỉ đến một lần trong đời mà thôi. Với những ai đang là người viễn xứ, hãy đừng quên trong cái vị đăng đắng của những giọt cà phê đó là những gì ngọt ngào nhất đang chờ ta ở quê nhà. Với những ai sắp là người viễn xứ, hãy tận hưởng những giờ phút thanh bình mà cha ông đã để lại; để một mai, khi xa gia đình, xa quê hương sẽ có thể mang theo những ký ức đẹp đẽ đó và sau này khi quay trở về sẽ mang những điều mới lạ vun đắp cho thế hệ sau này.

N.T.H

Mẹ và Cafe

Mẹ tôi có đến 16 năm gắn bó với “nghiệp” bán cà phê! Phải gọi bằng “nghiệp” vì đây không phài là nghề “truyền thống” của mẹ. Mẹ tôi vốn dĩ là một giáo viên dạy văn. Khi quyết định nghỉ hưu non để thuận tiện trong việc chăm sóc, nuôi dạy con nhỏ; mẹ chọn lựa mở một quán nước với suy nghĩ rất đơn giản rằng” nghề này có thể kiếm được thu nhập hằng ngày. Và có lẽ, chính mẹ cũng không ngờ rằng mẹ lại gắn bó với nó lâu đến thế!

Bây giờ, sau 19 năm, dù đã trải qua thất bại nhiều hơn thành công, dù cũng nếm trải nhiều vất vả nhưng mẹ vẫn nghiệm ra rằng “nghiệp bán cà phê” có lẽ thích hợp với mẹ nhất. Rằng mẹ đã có “duyên” với nó!

Quán nước của mẹ tôi phải di chuyển khá nhiều lần. Mẹ cũng bán đủ thứ nước uống trong qui mô cần có của một hàng quán trung bình. Thế nhưng cà phê là thức uống mẹ tôi bán đắt hàng nhất!

Không ai chỉ dạy mẹ cách pha chế cũng như chọn loại cà phê thế nào là ngon. Chính mẹ tự uống thử và cảm nhận để tự pha trộn được một hương vị cà phê ưng ý nhất cho đến bây giờ!

Khách hàng của mẹ tôi có đủ mọi tầng lớp và thành phần. Từ anh thợ xây cho đến những bạn trẻ hay người già nhưng đông nhất và “trung thành” nhất chính là đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên của một bệnh viện quân đội gần quán nước nhà tôi.

Mỗi sáng sớm, nếu ai đi qua quán nước nhà tôi chỉ thấy toàn màu trắng sáng của y phục hoặc những bộ quân phục chỉnh tề kèm theo thức uống chỉ thấy toàn cà phê. Mỗi ngày, mẹ tôi phải pha chế sẵn hơn 30 ly cà phê để kịp thời phục vụ cho các “thượng đế” thân thiết của mình, chưa kể đến các khách hàng khác.

Thậm chí mẹ tôi còn thuộc từng gu uống cà phê của mỗi người. Bác sĩ A uống nhiều sữa, ít cà phê; y tá B uống cà phê rất đậm; y sĩ C uống cà phê không đường …Mỗi lần trong bệnh viện gọi nước, mẹ chỉ cần hỏi tên là biết được ai uống thế nào. Liều lượng mẹ pha chế rất chính xác. Ngay cả khách hàng của mẹ cũng quen thuộc với điều đó!

Hôm nào chưa kịp lấy tất cả các loại cà phê, thiếu hay dự một liều lượng, mùi vị nào là họ nhận ra ngay. Và nếu để cho một ai khác pha chế cà phê mà không phải mẹ tôi, họ cũng nhận ra sự khác biệt. Mẹ vẫn hay “cằn nhằn” tôi vì pha chế cà phê không đúng cách, do tôi hay đổ nhiều nước làm cà phê không đậm đặc. Dù có vội đến mấy, mẹ cũng đun sôi nước để pha cà phê vì như thế cà phê mới chín và thơm!

Giá một ly cà phê ở quán nhà tôi thuộc loại bình dân thôi nhưng đã có rất nhiều người khen cà phê nhà tôi thật ngon. Ngay cả những người đã từng đi uống ở rất nhiều quán và thưởng thức đủ loại vẫn dành cho cà phê của mẹ tôi lời khen tặng. Có những vị khách qua đường chỉ uống cà phê một lần nhưng lại muốn được mua về nhà để có thể tự nhâm nhi mọi lúc. Có những người dù là ngày nghỉ cuối tuần vẫn ghé quán nhà tôi uống cà phê vì quen “đô” mất rồi! Đó chính là niềm vui lớn lao nhất của mẹ tôi. Ngay cả mẹ từ một người không hề biết uống cà phê đã trở nên “nghiện” khi trung bình mẹ phải uống 3 ly một ngày.

Tôi không ngạc nhiên về thành quả của mẹ. Mẹ đã dành trọn một phần ba cuộc đời cho một nghề nghiệp “bất đắc dĩ” vì mục đích mưu sinh. Nhưng chính nhờ sự tận tụy, ý thức trách nhiệm với công việc mình đã chọn; mẹ tự tạo cho mình “thương hiệu riêng” dù nó chỉ rất nhỏ bé nhưng quan trọng hơn hết là mẹ đã có thể dùng “nghiệp” của mình để nuôi sống gia đình.

Còn tôi, dù có đi uống ở bất cứ đâu vẫn thích và nhớ nhất cà phê của mẹ. Không chỉ vì nó ngon mà là cà phê của mẹ chứa đựng nhiều “ý nghĩa” hơn việc đơn giản chỉ là một thức uống thông dụng.

Cuộc sống có khi “đắng nghét” như ly cà phê nhưng nếu chậm rãi thưởng thức giống như khi bình tĩnh chấp nhận và thay đổi hoàn cảnh bằng chính nỗ lực của mình, sẽ tìm thấy niềm vui và thành công giống như lúc cảm nhận được “vị đậm đà, mùi hương ngọt ngào” của cà phê vậy!

Sống chậm với một trang sách, một ly cà phê

Cuộc sống bận rộn, con người mắc kẹt trong công việc, áp lực và đôi khi là sự bế tắc. Người ta không còn một chút hứng thú để nghĩ về một khoảnh khắc lãng mạn, đọc một cuốn sách thậm chí một trang sách, hay nhâm nhi một tách cà phê thưởng thức một không gian an lành, ngập tràn hương vị cuộc sống đang hiện hữu quanh mình
Ở bên cạnh tôi vẫn có những cuộc đời thật nhạt. Những ai đó buổi sáng lục tục dậy nấu gì đó ăn; vội vội vàng vàng đến công sở, làm nhì nhằng vài việc, không cần quan tâm đến hiệu quả; trưa túc tắc cơm bụi vỉa hè; xong đâu đó ngả lưng ra ghế hoặc gục đầu vào bàn ngủ; chiều tỉnh dậy vươn vai, ngáp ngáp vài cái cho tỉnh; rồi lại sắp xếp làm vài việc nhì nhằng gì đó, chờ hết giờ để về đi chợ, đón con và lo bữa tối. Cơm nước xong lại lau chùi dọn dẹp nhà cửa, hết việc thì cũng ngót nghét hết buổi tối rồi, bèn lăn ra ngủ. Ngày cứ qua ngày như thế, tháng cứ qua tháng như thế, chợt giật mình nhìn lại, thấy đời đã vợi hết mọi nguồn vui.

Ở bên cạnh tôi cũng lại có những cuộc đời quá ư bận rộn. Làm việc, làm việc, làm việc như điên; chồng chất, bị sai khiến bởi chính đồng tiền mà mình kiếm được. Mở mắt đã bực bội, ức chế vì công việc không thông; buổi trưa đến ăn bữa cơm không ngon vì những cú điện thoại công việc bất tận; tối đang định ngả lưng, lại bật dậy với một ý tưởng kiếm tiền mới… Quay cuồng.

Đó dường như là những con người chưa biết tự quý bản thân mình. Ta đang hành hạ từng thời khắc quý giá của cuộc đời mà không hề biết. Ta không hề nghĩ dành ra một khoảng thời gian nhỏ nhoi của mỗi ngày để đọc một cuốn sách mới, xem một bộ phim mới, thưởng thức một bản nhạc hay, nhâm nhi một ly cà phê ưng ý.

Không phải vô lý do khi các nhà sản xuất cà phê liên tục tìm ra các dạng thưởng thức cà phê mới, vì cái đích đạt đến cuối cùng của họ vẫn là cố gắng đem lại một cuộc sống ý nghĩa cho mỗi người.

Hôm trước tôi vô tình được thưởng thức một ly cà phê tươi “made in Vietnam” của Trung Nguyên, thấy lạ lùng vì sức sáng tạo của con người. Cũng là cà phê Buôn Ma Thuột vậy thôi, mà sao mỗi kiểu uống lại có một hấp lực gây bất ngờ đến vậy. Ấy cũng là bởi cuộc sống con người sợ nhất là sự nhàm chán, sự vô nghĩa; sợ nhất là sản sinh ra những cỗ máy mang tên “con người”; nên sáng tạo, sáng tạo không ngừng mới là điều vô giá và cần thiết.

Hãy bồi bổ cho chất lượng cuộc sống mỗi ngày, vì biết sống một ngày chất lượng sẽ thêm hứng thú để sáng tạo sống một chuỗi ngày thi vị và sinh động hơn. Sống chậm cũng là cách hồi sinh mình, khám phá mình

(Phú Nghĩa)

Cà phê cho tình đầu

Tôi rất “sốc” cụm từ “Kệ cháu, cô” của anh. Không phải tuần nào cũng được gặp nhau vì anh là lính còn tôi là sinh viên cao đẳng năm I, nhưng lần nào gặp nhau anh cũng ngồi im thin thít nhìn tôi y như rằng người trước mặt mình là… động vật thời tiền sử! Mẹ tôi mời nước, mời bánh, rồi cả mời cơm nhưng anh cũng chỉ một câu cửa miệng “Kệ cháu, cô” và không đụng đến một món nào. Tôi thắc mắc “Tại sao gọi ba mẹ của bạn gái mình bằng cô, chú phải gọi là bác mới phải?”. Anh bảo “Nếu ba mẹ bạn gái lớn tuổi hơn bố mẹ mình thì mới gọi là bác, còn nhỏ hơn chỉ gọi bằng cô chú, người Bắc anh là thế!”.

Thắm thoát đã một năm quen nhau, nhưng nói thật là chỉ có thư từ và những ánh mắt nhìn, chưa từng có một cái nắm tay hay một lần đi chơi chung. Những lúc anh đến nhà vào những ngày cuối tuần tôi đều phải phụ gia đình lặt lá chân những luống hành, nên sau “màn chào hỏi” ở phòng khách là tôi bảo anh cứ ngồi đầy chơi với… đám em của mình, còn tôi thì phải ra vườn. Tất nhiên anh không đồng ý, và ra vườn lặt lá hành cùng tôi, chẳng biết do đông tay nhanh việc hay do “mãnh lực” nào đó mà những luống hành được thay lớp áo cũ nhanh chưa từng thấy! 20 luống hành 1,5mx30m già một buổi đã được lặt xong lớp lá chân, rồi còn pha phân lân để tưới, nhổ trăm ký giũ sạch đất cát chờ bạn hàng đến cân… tất cả xong lúc 2h30giờ chiều. Và bữa cơm thật ngon với lá hành luộc chấm nước tương tỏi ớt được dọn ra, anh ăn rất… lính và chuẩn bị vượt 80km đường xa về đơn vị cho kịp buổi điểm danh.

 Tôi cứ nhớ hoài cái ngày mồng hai tết năm ấy… tôi cùng hai nhỏ bạn đến đơn vị thăm anh. Bạn bè anh cũng rất ý tứ, sau khi ăn cơm ở nhà ăn và lên phòng uống trà thì các bạn “rút” sang phòng khác để mình tôi và anh ở lại… Có lẽ đây là lần đầu sau hai năm quen nhau cả hai mới có những phút giây “ta với ta” như vậy. Và từ bên ghế đối diện, sau nhiều phút chằm chằm nhìn tôi, anh đã bước sang ngồi gần bên tự lúc nào, và cánh tay khỏe khoắn đầy rắn chắc của “cây bóng chuyền số một của đơn vị” (theo lời khen ngợi của bạn bè anh) đã choàng qua vai tôi vít cổ tôi sát vào mũi anh và… một cái hôn phớt qua mang tai! Đáng ra cái hôn ấy không là phớt qua, cũng không là hôn lên má, mà có thể lên môi và tôi không từ chối được cũng không chừng! Nhưng nhiều năm trước, tuổi hai mươi của tôi còn “thần thánh hóa” tình yêu lắm!

 Tình yêu theo quan niệm của tôi là trong sáng như pha lê, long lanh như sương buổi sáng, là chỉ có mắt nhìn chứ không hề có sự va chạm nào. Vậy nên hôm nay anh làm tôi quá bất ngờ, tưởng chừng như “sụp đổ thần tượng”, chân với giày cao gót tôi giẫm mạnh vào chân anh cho anh “tỉnh”, còn tay bên kia – tay không phải bị hạn chế tầm xa do khuôn ngực anh chèn lại – tôi đã tát lên má anh một cái tát bằng hết sức bình sinh! – “Bốp”! Anh buông tôi ra và nhìn sững, sau đó từ từ đưa tay xoa má… trời ạ, những bốn ngón tay tôi đã in rành rành trên mặt anh. Biết mình không phải, tôi sẽ sàng lấy chiếc khăn tay trong túi ra, đổ hết ly nước trà cho khăn ướt và đưa cho anh và chỉ lên mặt “ra dấu” rằng hãy lau cho bớt vết hằn đỏ.

Anh cầm chiếc khăn nhưng không lau mà cất vô túi rồi rót hai ly trà, đưa sang tôi một ly với câu “anh xin lỗi” nhẹ như gió thoảng. Tôi nghe lòng hối hận, niềm hối lỗi như vô cớ, như lại có căn do…Ra về, hai nhỏ bạn hỏi “Lúc nãy mày với anh ấy làm gì mà bể cái ly vậy”. “Bể ly hồi nào?” tôi ngây ngô. “Tụi tao nghe “bốp” mà?”. “À… tao tát ảnh”. “Tại sao?”. “Ai biểu dám… hôn tao”. “Rồi có được không?”. “Không, bộ tụi mày không thấy chân ảnh đi cà nhắc, mặt đỏ hằn à, giày tao giẫm lên chân nữa đó!”. “Trời!”. Hai nhỏ bạn đồng thanh kêu to. * Anh lại đến nhà chơi, sau “vụ án cái tát”, hôm nay gia đình tôi thu hoạch hành, cũng được hơn cả tấn, trừ hết chi phí còn lời hơn nửa nên tâm trạng ba tôi rất vui. Ông bảo tôi pha cà phê cho hai người uống. Pha cà phê á? Thôi rồi… ba “giết người không gươm đao” rồi ba ơi! Dẫu rằng tôi là con nhà nông, như từ trước giờ chỉ ăn đi học, rảnh thì làm vườn, chuyện cơm nước, bếp núc “khoáng” cho nhỏ em kế. Là sự phân công hợp lý thôi mà, nhỏ ta có bao giờ biết lặt một chiếc lá hành nào đâu, cũng như liều lượng bao nhiêu kg phân lân cho ngần ấy mét vuông hành thì nhỏ ta mù tịt! Nhưng bây giờ nhỏ không có nhà, không thể cầu cứu ai. Tôi bèn vận dụng hết sự hiểu biết của mình. Cũng cà phê đây, phin đây, nước nóng đây, ly đây…

 Tôi xếp mọi thứ giống như đã từng thấy, nhưng tới phần cho bột cà phê vào phin thì chẳng biết bao nhiêu cho vừa? Ừm… thì cho đại tới hai cái “mụt” nhô ra của phin đi, nén chặt lại, chế đầy nước vô và đậy lại. Uy… chết rồi, quên khuấy đi mất! Ba tôi không ghiền trà hay cà phê nhưng mỗi lần ông uống thì uống phải thật đậm, y như rằng “không uống thì thôi, uống phải cho đáng” vậy! Nhưng lượng cà phê trong phim này chắc chắn không thể nào vừa ý ba, không lẽ bỏ pha phin khác? Thời gian đâu? Thế là vận dụng hết trí thông minh có thể, tôi mở nắp phin ra và trút nhanh vào ấy một ít bột cà phê nữa. Phào… thế là xong… vậy mà một lúc nghĩ không ra lại nhức cả đầu. Chỉ còn chờ châm trà và bưng lên là xong, phen này chắc chắn được ba khen mà anh cũng “lác mắt” vì tôi không những học khá, làm việc ngoài đồng giỏi mà nội trợ cũng không thua ai.

Nhưng… mười phút trôi qua mà không nghe tiếng ly muỗng va vào nhau. Bỗng…

- Con gái, sao cà phê lâu xuống quá vậy? – Không biết ạ, con vẫn pha như người ta thôi?!

- Con làm sao?

- Cho cà phê vào phin và chế nước xong, con lại nhớ ba thích uống đậm nên con trút thêm vào một ít… không biết sao mà lâu xuống vậy? Có tiếng nắp nhôm va lanh canh lên mặt bàn đá và tiếng ba tôi vang lên:

- Trời ơi… con gái lên đây coi nè! Trước mặt tôi là chiếc phin vun đầy bột cà phê, nhưng đã sền sệt vì ngấm nước và đang chực tràn ra ngoài, dưới ly chỉ có vài giọt màu nâu nằm im ỉm…

- Con gái với chả đứa! Pha cà phê như vầy làm sao mà mời khách!? Ông quát tôi và quay sang anh

– Nó hậu đậu, không nên thân nên hình gì hết, cháu có còn định tìm hiểu nữa không?

- Dạ… không sao đâu chú, mai này em Trang sẽ pha cà phê ngon thôi mà. Để cháu rót trà cho chú…

- Ừ, cà phê không dùng được đâu, thôi mình uống trà đi cháu! – “Xoẹt”!

- Có tiếng phun nước và lời ba gọi như thét

- Trang!

- Dạ! Thật ra sau “sự cố ly cà phê” tôi đã xấu hổ quá xá chừng và chui tọt vô phòng trốn rồi. Giờ chuyện gì nữa đây hở trời!?

- Con pha trà gì vậy?

- Dạ, trà… móc câu ba vẫn uống mỗi tối đó mà. – Có súc bình không? – Con thấy… hồi hôm ba mới uống…

- Trời ơi… “tôi” sợ “cô” luôn rồi! Thôi, cháu Hoàng ở nhà chơi với nó nhé, chú đi một chút, ở nhà chắc tao đập chết con này quá! Bây giờ không ai tát tôi cả, như tôi nghe mặt mình đỏ phừng phừng, đối diện anh mà cứ cúi xuống như kẻ tội đồ to tát lắm. Anh “gỡ rối” cho tôi bằng cách:

Thôi “cô giáo” ra đầu đường uống nước mía nhé, mai về với anh pha trà là “chuyện nhỏ” thôi! * Nhưng tôi không bao giờ có dịp “về với anh”, vì tôi ra trường nhận công tác xa nhà gần trăm kilomet, khoảng cách không gian giữa tôi và anh đã xa lại càng xa hơn nữa. Anh sắp “ra quân” rồi, trời Nam chỉ là một quảng thời gian anh thi hành nhiệm vụ của người trai. Gia đình, người thân… tất cả đều đang chờ anh về trên đất Bắc. Tình yêu là quý giá nhưng muốn có được nhau thật chẳng dễ dàng gì. Một ngày sân trường ngập nắng, tôi đã nhận bức thư với dòng chữ vô cùng quen thuộc, lòng vui như mở hội, nhưng đọc thư mới hay nước mắt ướt nhòe: “Khi em nhận được thư này là anh đang trên đường trở về quê hương xứ sở. Đừng buồn nhau em nhé, chắc mình có duyên mà không nợ… kỷ niệm trời Nam vẫn còn in đậm trong lòng, nhưng em ơi, chắc em, chắc anh, không thể làm gì khác hơn…” Thư còn dài nhưng tôi không còn tâm trí đâu để đọc. Nhiều đêm mơ ngủ tôi cứ thấy mình cùng anh đội nắng bên những luống hành, rồi lại thấy dấu những ngón tay in hằn trên mặt anh… cả ly cà phê tình đầu mà tôi cố công pha nhưng anh không được uống…

Bây giờ tôi đã có thể pha một ly cà phê ngon, chỉ cầm nhắm mắt cũng không thể nào cho bột cà phê quá nhạt hay quá đậm. Chỉ có điều, khi pha ngon được ly cà phê thì tình đầu đã xa vời vợi. Nhưng dù tôi có thể pha trăm ngan ly cà phê ngon đi chăng nữa thì đoan chắc rằng sẽ không có ly nào ăm ắp yêu thương sáng trong đầy thánh thiện của ngày xưa yêu dấu. Cái ngày tình yêu chỉ thể hiện bằng ánh mắt, bây giờ đã quá xa xưa…

(Theo Thienduongcafe)

Hương cà phê

Cô say anh như say café lần đầu tập uống, mọi thứ bất giác đều thật quá sức…

Lâu anh không ra Hà Nội, lâu cô không vào Sài Gòn để nhớ về cái hương vị của café. Hà Nội gọi café nâu, Sài Gòn gọi café sữa đá…anh ngồi đấy quán cũ, một trong những quán anh từng nhìn thật lâu vào mắt cô để cảm nhận về cái hạnh phúc của một người đàn ông từng trải như anh đã nói “Anh già rồi, không cảm nhận được vị đắng của café nhưng hương vị thì khác…” còn cô, hôm nay ngồi đây một góc quán cũ không còn ngây thơ, không còn vô tư để yên tay mình trong tay anh, không còn theo nhau đi… lần lượt đến, chỉ để biết, chỉ để thưởng thức cái hương vị như anh nói.

Có lẽ bây giờ cô mới biết café đắng, rất đắng… Xưa, cô chỉ biết về một thứ hương hư ảo của một thời trẻ con mơ mộng… Cô nói “Em thích kem, đơn giản vì ăn kem thể hiện sự lãng mạn của người con gái trước con trai.

Em thích hương café như ngầm định em thích anh, thích người đàn ông đang ngồi trước mặt mình…”. Như café, như anh, như đàn ông nhiều tuổi, đến và đi nhanh chóng, chỉ để lại chút hương khi nóng.

Người ta bảo đàn bà 30 một là cuộc sống, một là khát khao hy vọng nhưng thực tế hơn, trần tục hơn, không để nghĩ khác về ly café muối hay café không đường, đắng nhưng chấp nhận, đắng không đường, uống để biết có nhiều thứ ngọt hơn.

Những năm tháng qua đi lặng lẽ, một mình quay đầu nhìn lại, nhớ cái nắm tay, nhớ những trải nghiệm của mối tình đầu không phải để đau hay để khóc, để trách anh, người đàn ông nhiều tuổi… mà để yêu anh hơn như yêu café, yêu cái hương vị của cuộc sống.

Anh nói “Anh thích em vì những ước mơ như truyện, vì những sở thích rất trẻ con, buồn cười nhưng thú vị… thú vị và lạ…”. Lạ, khác nhau ở cảm giác, lạ ở những cái rất tò mò và khám phá.

http://hoanggiangcafe.com/img/baiviet/ca-phe-Sai-Gon/ca-phe-dang.jpg

Như cô ngây thơ, trầm trồ khi nghe anh kể về những việc anh từng làm, con đường anh đã qua, những điều anh học được, anh đánh giá. Cũng giống như anh tìm thấy ở cô… Vậy đấy, cô say anh như say café lần đầu tập uống, mọi thứ bất giác đều thật quá sức…

Dường như những trải nghiệm sớm từ anh giữ cô thăng bằng hơn trong cuộc sống, cô bắt đầu biết mình cần gì, người ta nói đàn bà 30 có quyền mơ những gì trước kia hy vọng nhưng sâu sắc hơn, thật hơn, chắc chắc và rõ ràng như cô bây giờ… ngồi đây, không phải đợi anh đến trước, không chờ anh gọi café, không chờ anh pha chế, giải thích, em nên hoặc em cần…

Cô bây giờ có quyền từ chối ly café anh vẫn nói rằng ngon vì biết mình muốn gì mà vẫn thanh thản, không nuối tiếc khi anh hụt hẫng hay nghiêm nghị “Bé à, nghe anh đi” chỉ vì anh có quyền khi đã đi qua, cảm nhận về cuộc sống của cô bây giờ hơn anh. Cô đã chọn tách café nâu Hà Nội, ấm lòng, thơm… đấy là hương vị đầu đời.

Có lẽ cô đang mỉm cười… quán cũ, người xưa giờ vẫn vậy nhưng cô thì khác, cô có cái quyền mà anh đã lờ đi không nhắc tới, còn cô vô tình không hiểu để đòi hỏi…

Hương café là thói quen của người đàn ông từ khi còn trẻ, vị café là những trải nghiệm của đàn bà đôi khi phải nếm từ rất sớm nhưng café hoặc là say, hoặc là tỉnh như anh, như cô… như một là chấp nhận café, hai là không biết hương, không biết vị, chỉ biết một màu nâu đen duy nhất, một màu nâu tối đậm của café, màu của cuộc sống…

(24H.com.vn)